​​Cục Đăng kiểm Việt Nam (Vietnam Register - VR) là tổ chức trực thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về đăng kiểm.

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM
Cục Đăng kiểm Việt Nam là tổ chức trực thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về đăng kiểm đối với phương tiện giao thông, các tổng thành, hệ thống, linh kiện, phụ tùng của phương tiện giao thông, phương tiện, thiết bị xếp dỡ, thi công chuyên dùng, công-te-nơ sử dụng trong giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, phương tiện hoạt động trong cảng hàng không, sân bay (sau đây gọi tắt là phương tiện, thiết bị giao thông vận tải) và phương tiện, thiết bị thăm dò, khai thác, vận chuyển trên biển, máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động trong giao thông vận tải (trừ phương tiện phục vụ vào mục đích quốc phòng, an ninh và tàu cá); tổ chức thực hiện công tác đăng kiểm về chất lượng an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường, an toàn lao động đối với các loại phương tiện, thiết bị nêu trên theo quy định của pháp luật.
Tên giao dịch tiếng Anh: VIETNAM REGISTER 
Trụ sở: Số 18 đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Cục Đăng kiểm Việt Nam có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.
________________________________________
1. Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1960, Phòng Ðăng ký hải sự trực thuộc Bộ Giao thông vận tải được thành lập để thực hiện việc kiểm tra các loại phương tiện vận tải đường thủy có trụ sở tại Hà Nội. Đây là cơ sở tiền thân của Ðăng kiểm Việt Nam ngày nay 
Ngày 25/4/1964, Ty Đăng kiểm được thành lập – là mốc chính thức hình thành hệ thống đăng kiểm Việt Nam.
Ngày 19/7/1979, Ty Đăng kiểm được chuyển thành Cục Đăng kiểm Việt Nam theo Quyết định số 267/CP, với chức năng đăng ký, kiểm tra kỹ thuật an toàn, đo dung tích và phân cấp tàu thủy, kiểm tra nồi hơi và bình chịu áp lực.
Từ những năm 1970–1980, Cục đã thực hiện kiểm tra, phân cấp tàu chạy tuyến quốc tế và từng bước thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế; năm 1984 lần đầu tham dự Đại hội đồng của Tổ chức Hàng hải Quốc tế.
Năm 1991, Cục được giao thực hiện kiểm tra, chứng nhận tàu biển Việt Nam phù hợp với các công ước quốc tế như SOLAS, MARPOL, LL66, TONNAGE, COLREG, đánh dấu bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực hàng hải.
Giai đoạn 1992–2003, Cục mở rộng toàn diện lĩnh vực hoạt động:
1992: đăng kiểm công trình dầu khí biển; 
1993: chứng nhận sản phẩm công nghiệp; 
1995: triển khai hệ thống kiểm định phương tiện cơ giới đường bộ; 
2000: kiểm tra, chứng nhận chất lượng phương tiện cơ giới đường bộ sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu; 
2003: triển khai đăng kiểm đường sắt và tham gia Ủy ban Kiểm định phương tiện cơ giới quốc tế. 
Các giai đoạn sau tiếp tục ghi nhận sự phát triển về năng lực kỹ thuật, mở rộng hợp tác quốc tế; năm 2010 tham gia Hiệp hội Đăng kiểm Châu Á; 
Ngày 01/3/2025, Cục Đăng kiểm Việt Nam chính thức là tổ chức trực thuộc Bộ Xây dựng
Ngày 01/01/2026 Cục Đăng kiểm Việt Nam được tổ chức theo mô hình cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành kết hợp với hệ thống đơn vị sự nghiệp kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ đăng kiểm trên phạm vi toàn quốc. 
________________________________________
2. Các lĩnh vực quản lý và nhiệm vụ chủ yếu
2.1. Lĩnh vực hàng hải và công trình biển
Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tàu biển; kiểm tra, phân cấp, chứng nhận tàu biển và công trình biển theo quy định của pháp luật và các công ước quốc tế của Tổ chức Hàng hải Quốc tế.
2.2. Lĩnh vực phương tiện thủy nội địa
Kiểm tra, chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện thủy nội địa; sản phẩm, thiết bị lắp đặt trên phương tiện.
2.3. Lĩnh vực phương tiện cơ giới đường bộ
Tổ chức kiểm tra, chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện cơ giới đường bộ sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu; kiểm định phương tiện đang lưu hành; kiểm tra xe máy chuyên dùng và thiết bị liên quan.
2.4. Lĩnh vực đường sắt
Thực hiện kiểm tra, chứng nhận an toàn kỹ thuật đối với phương tiện, thiết bị giao thông đường sắt; tham gia quản lý nhà nước về đăng kiểm trong lĩnh vực đường sắt.
2.5. Lĩnh vực công nghiệp và thiết bị
Kiểm tra, chứng nhận sản phẩm công nghiệp, công-te-nơ, thiết bị xếp dỡ, thi công; máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động trong giao thông vận tải.
________________________________________
3. Hợp tác quốc tế và hội nhập
3.1. Lĩnh vực hàng hải
Cục là đầu mối triển khai các công ước quốc tế của Tổ chức Hàng hải Quốc tế; đồng thời ký kết thỏa thuận ủy quyền với các tổ chức đăng kiểm quốc tế (ABS, BV, DNV, LR, NK, CCS, KR, RINA, IRS…) để thực hiện kiểm tra, chứng nhận tàu biển theo thông lệ quốc tế.
3.2. Lĩnh vực kiểm định phương tiện cơ giới
Cục là thành viên của Ủy ban Kiểm định phương tiện cơ giới quốc tế từ năm 2003; tham gia các cơ chế hợp tác ASEAN và các diễn đàn quốc tế về kiểm định phương tiện.
Đồng thời, Cục tham gia Hiệp định UNECE 1958 và Asia-Pacific Working Group trong khuôn khổ UNECE World Forum for Harmonization of Vehicle Regulations, với các nhiệm vụ: nghiên cứu áp dụng UN Regulations, tham gia xây dựng quy định, nội luật hóa vào hệ thống QCVN, từng bước triển khai công nhận kiểu loại và nâng cao năng lực thử nghiệm.
3.3. Hợp tác với các hiệp hội và tổ chức quốc tế
Cục là thành viên của Hiệp hội Đăng kiểm Châu Á, có quan hệ hợp tác với các thành viên của Hiệp hội Đăng kiểm Quốc tế và nhiều tổ chức quốc tế như WMU, UNDP, UNEP, GIZ, TÜV, JASIC, CATARC…
3.4. Hợp tác song phương
Cục Đăng kiểm Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 20 tổ chức đăng kiểm và cơ quan kỹ thuật nước ngoài trong lĩnh vực công nhận lẫn nhau về giám sát kỹ thuật, bao gồm các tổ chức lớn như: LR, ABS, DNV, BV, KR, NK, CCS, RINA, IRS, PRS, BKI và nhiều tổ chức khác.
Hoạt động hợp tác quốc tế của Cục Đăng kiểm Việt Nam được triển khai toàn diện, đa dạng về hình thức và đối tác, phù hợp với định hướng hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giao thông vận tải. Các hoạt động này góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực đăng kiểm./.